MẸO HAY CHỮA BỆNH>>KINH NGHIỆM CHỮA SỎI MẬT BẰNG QUẢ SUNG

Sung là một loài cây đặc biệt vì có rất nhiều quả lúc lỉu trên cành mà không thấy hoa, nên còn được gọi là Vô hoa quả hay Ưu đàm thụ.
Bài thuốc cụ thể chữa sỏi mật là: mỗi ngày lấy 250gr sung miếng khô đã xao cho vào nồi đổ 4 bát nước đun lấy 1 bát sau đó chia ra uống trong ngày. Phần bã còn lại thì đun nước uống bình thường thay nước hàng ngày.
Thực hiện uống đều đặn nước quả sung trong 2-3 tháng sau đó đi siêu âm xem kết quả. Với những ai sỏi nhỏ, bệnh nhẹ thì chỉ trong 2-3 tháng là tan sỏi. Những người bị nặng hơn thì trong thời gian đó cũng bắt đầu có kết quả.
Ngoài ra cũng có thể kết hợp quả sung với một số vị thuốc khác để trị sỏi mật như sau: Quả sung khô 50gr, nhân trần 10gr, hoa actisô 10gr, lá vọng cách 10gr, diệp hạ châu 8gr, râu ngô 8gr, kê nội kim (màng mề gà) 10gr, nghệ vàng 12gr, bạch truật 12rg, đảng sâm 20gr, thổ phục linh 10gr, cam thảo 8gr.
Bài thuốc trên có 3 tác dụng chính là làm tan sỏi (chủ yếu là quả sung, kê nội kim và nghệ vàng), lợi mật, tống sỏi ra ngoài (chủ yếu là râu ngô, nhân trần, diệp hạ châu, vọng cách và ý dĩ), bổ can, kiện tỳ để nâng chức năng gan giúp không hình thành sỏi mới (chủ yếu là nhân trần, actisô, bạch truật...)
Sung là loài cây có thể cao tới 15-20m. Lá hình ngọn giáo hay bầu dục, mọc so le, thường bị sâu ký sinh, tạo thành mụn nhỏ. Cụm hoa trên đế hoa lõm, phát triển thành túi kín bao lấy hoa ở bên trong, các cụm hoa này xếp thành chùm ở thân và cành. Quả Sung (thực chất là đế hoa bao lấy quả thật ở bên trong) khi chín màu đỏ. Mùa hoa tháng 6-11. Sung là cây của miền Đông Dương và Ấn Độ, thường mọc hoang và đôi khi cũng được trồng làm cảnh, lấy quả ăn và làm thuốc. Ngoài quả, còn lấy nhựa mủ; lá và vỏ cây. Có thể thu hái các bộ phận của cây quanh năm. Nhựa chích từ thân cây tươi. Lá dùng tươi hay phơi khô, hoặc đốt tồn tính, tán bột, chọn những lá có mụn càng tốt. Đẽo vỏ cây, cạo lớp vỏ ngoài, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô. Theo Từ điển cây thuốc Việt Nam, Sung có vị ngọt, hơi chát tính mát; có tác dụng thông huyết, lợi tiểu, chỉ thống, tiêu đàm, tiêu thũng, tiêu viêm, sát trùng, bổ máu. Vỏ cây có vị chát. Quả có vị chát; có tác dụng lợi tiêu hóa, lợi trung tiện. Thường dùng 10-20g cành lá, vỏ cây sắc uống. Ở Ấn Độ, rễ Sung được dùng trị lỵ, nhựa rễ dùng trị bệnh đái đường; lá làm thành bột và trộn với mật ong dùng trị bệnh về túi mật; quả được dùng trị rong kinh và khạc ra máu; nhựa Sung dùng trị bệnh trĩ và ỉa chảy. Ở Inđônêxia, dùng chữa đau dạ dày và ruột, ngộ độc, rắn cắn.
Đơn thuốc:
1. Chữa nhức đầu: Phết nhựa Sung lên giấy rồi dán ở hai bên thái dương. Chữa liệt mặt thì dán vào bên phía mặt không bị méo.
2. Chữa bỏng: Hòa nhựa Sung với lòng trắng trứng gà phết lên giấy bản rồi dán.
3. Trẻ em lở ghẻ: Dùng lá Sung non giã nhỏ xát vào sẽ làm bong vẩy.
4. Mặt nổi cục sưng đỏ như hạt đào, hạt mận: Dùng lá Sung tật (có mụn) nấu nước uống, xông rửa hằng ngày.
5. Đàn bà đẻ ít sữa: 10-20g cành lá hoặc vỏ Sung sắc uống, phối hợp với lõi cây Thông thảo, quả Đu đủ non, chân giò lợn nấu ăn. Hoặc dùng quả Sung, quả Mít non hay dái Mít thái nhỏ, nấu cháo với gạo nếp hoặc nấu canh ăn.